chung cư hh2 linh đàm chung cư hh1 linh đàm chung cư hh3 linh đàm chung cư hh1 linh đàm chung cư hh2 linh đàm chung cư hh4 linh đàm chung cư hh4 linh đàm chung cư hh4 linh đàm chung cư hh3 linh đàm Chung cư ct3 tây nam linh đàm Chung cư hh4 linh đàm thuốc giảm cân sữa ong chúa nhau thai cừu
Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Quảng Nam 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2012 (17/07/2012)
Thực hiện Nghị Quyết số 01 ngày 03/01/2012 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012; Nghị quyết của HĐND tỉnh về nhiệm vụ năm 2012. Thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2012 có ý nghĩa quan trọng để góp phần hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011 – 2015).

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2012
 
Nhờ sự nổ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân triển khai Nghị Quyết của Chính phủ, của HĐND, tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đã có những chuyển biến và đạt kết quả tích cực, cụ thể như sau:
 
1. Về mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định phát triển kinh tế
 
a) Giá cả, lạm phát tăng chậm rõ nét và bước đầu ổn định.
Chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất so với cùng kỳ năm trước, cụ thể so với tháng trước: tháng ba tăng 0,18%; tháng tư tăng 0,17%; tháng năm tăng 0,15%. Mặc dù lương cơ bản tăng 26,5% kể từ ngày 01/5 nhưng chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 không tăng mà giảm 0,47% so với tháng 5. Bình quân chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng năm 2012 tăng 11,89% so với cùng kỳ và tăng 2,46% so với tháng 12 năm 2011. Do nguồn cung tương đối dồi dào, thời tiết thuận lợi nên nhóm lương thực, thực phẩm trong tháng có xu hướng giảm so với tháng trước; nhóm nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng giảm; do giá xăng dầu được tiếp tục điều chỉnh giảm nên nhóm giao thông giảm. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ đều giảm so với tháng 12 năm 2011 (vàng giảm hơn 7%; USD giảm 0,38%).
 
b) Chính sách tiền tệ được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp; ngân hàng nhà nước thực hiện nhanh hơn lộ trình giảm mặt bằng lãi suất, góp phần tạo niềm tin cho thị trường.
Nhiều biện pháp thực hiện nhằm giảm mặt bằng lãi suất đã được thực hiện trong 6 tháng đầu năm. Việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hạ lãi suất huy động qua các lần từ 14% ở đầu năm xuống còn 9% vào nữa đầu tháng 6/2012 và cam kết ổn định đến cuối năm, kéo theo nhiều ngân hàng đồng loạt giảm các mức lãi suất cho vay, ưu tiên đối với 04 lĩnh vực theo Nghị Quyết 13 của Chính phủ: Phát triển nông nghiệp và nông thôn, sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, và phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Để tiếp cận được với khoản vay trên, doanh nghiệp phải chứng minh thuộc 4 nhóm ưu đãi trên và đáp ứng điều kiện tổ chức tín dụng đánh giá tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh. Hiện lãi suất cho vay 4 nhóm ưu đãi phổ biến ở mức 12-14%/năm, cho vay đối với sản xuất kinh doanh khác 14-17,5%/năm, cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích 16,5-20%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 5,5-7,5%/năm đối với ngắn hạn; 7,5-9%/năm đối với trung và dài hạn.
 
Tổng nguồn vốn huy động tại chỗ của các ngân hàng trên địa bàn đến cuối tháng 6 khoảng 12.700 tỷ đồng, tăng trên 28% so với cùng kỳ và hơn 12% so với đầu năm. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 22.500 tỷ đồng, tăng trên 22% so với cùng kỳ. Trong đó dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn chiếm trên 28% tổng dư nợ.
Tuy nhiên, tình hình nợ xấu có dấu hiệu gia tăng trong 6 tháng đầu năm, nợ xấu đến cuối tháng 6/2012 là 250 tỷ đồng, chiếm 1,1% tổng dư nợ, tăng trên 31% so với đầu năm. Như vậy tỷ lệ nợ xấu vẫn nằm trong mức an toàn, nhưng tốc độ tăng cao.  
 
c) Thu nội địa không tăng, thu xuất nhập khẩu thực hiện thấp.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến cuối tháng 6 là 2.598 tỷ đồng, chiếm 31% so với dự toán năm và bằng 79% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa 1.890 tỷ đồng, chiếm gần 40% dự toán, bằng 91% so với cùng kỳ năm 2011; thu xuất nhập khẩu 586 tỷ đồng, chiếm 19% dự toán năm và bằng 52% so với cùng kỳ.
Tổng chi ngân sách địa phương cuối tháng 6 là 4.567 tỷ đồng, bằng 51% so với dự toán năm, tăng 31% so với cùng kỳ. Trong đó, chi thường xuyên hơn 2.477 tỷ đồng, bằng 46% dự toán; chi đầu tư phát triển 1.990 tỷ đồng, tăng trên 31% so với cùng kỳ. Chi đầu tư phát triển chiếm tỷ lệ cao là do đã tính các khoản tạm ứng xây dựng cơ bản năm 2011 khối tỉnh 522 tỷ đồng vào chi năm 2012.
Như vậy, thu ngân sách trên địa bàn giảm 21% so với cùng kỳ, chủ yếu là hàng hóa nhập khẩu giảm mạnh, nên thu xuất nhập khẩu giảm 48%; bên cạnh đó, thu nội địa giảm hơn 8% so với cùng kỳ nên tổng thu giảm. Việc thực hiện miễn, giảm, gia hạn nộp một số các khoản thu ngân sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường theo Nghị Quyết 13 của Chính phủ, vì vậy, để đảm bảo thực hiện tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 33% và thu nội địa tăng 20% so với năm 2011 theo dự toán là hết sức khó khăn.  
 
d) Huy động vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện thấp, chiếm 27,1% GDP (theo giá hiện hành).
Thực hiện Nghị quyết 13 của Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng khóa XI và Nghị quyết Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai kết cấu hạ tầng đồng bộ đến năm 2020, với mục tiêu tập trung huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ tương đối đồng bộ với một số công trình qui mô lớn, có sức lan toả, thúc đẩy cho phát triển nhanh và bền vững, tiếp tục xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu phát triển tỉnh công nghiệp.
Theo số liệu thống kê, tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm thực hiện trên 5.121 tỷ đồng, giảm hơn 8% so với cùng kỳ, bằng 35% kế hoạch năm. Trong đó, vốn Nhà nước 3.541 tỷ đồng, giảm hơn 10%; vốn ngoài nhà nước 1.283 tỷ đồng, tăng 7%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 297 tỷ đồng, giảm 36% so cùng kỳ.
Như vậy, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước thực hiện giảm chủ yếu là do vốn doanh nghiệp nhà nước, vốn vay và vốn trái phiếu chính phủ có khối lượng thực hiện thấp so với cùng kỳ. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm so với cùng kỳ, đây cũng là xu hướng chung, tuy nhiên mức thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh giảm khá nhiều so với bình quân chung của cả nước (cả nước 5 tháng giảm 0,2% về khối lượng thực hiện).
Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước năm 2012 đến tháng 6/2012 hơn 4.145 tỷ đồng, tăng 15,7% so với kế hoạch năm 2011. Trong đó, nguồn vốn Trung ương cân đối 3.402 tỷ đồng, bao gồm: Ngân sách tập trung 402 tỷ đồng, khai thác quĩ đất 500 tỷ đồng, hỗ trợ theo mục tiêu 1.048 tỷ đồng, chương trình mục tiêu quốc gia 299 tỷ đồng, trái phiếu chính phủ 954 tỷ đồng, bổ sung 30 tỷ đồng. Ngân sách tỉnh huy động thêm 742 tỷ đồng từ các nguồn khai thác quĩ đất, xổ số kiến thiết, vượt thu, tăng thu để bổ sung vào kế hoạch vốn đầu tư xây dựng năm 2012. Ngoài ra, chưa kể nguồn vốn thực hiện các dự án ODA năm 2012 dự kiến giải ngân trên 300 tỷ đồng.
Mặc dù nguồn vốn chương trình hỗ trợ theo mục tiêu, trái phiếu chính phủ và chương trình mục tiêu quốc gia năm 2012 được bố trí chậm hơn so với năm trước, nhưng do được thẩm định nguồn vốn, thẩm định tính cấp thiết và thủ tục theo Chỉ thị 1792 của Thủ tướng Chính phủ, nên hầu hết các công trình được tổ chức thực hiện ngay khi bố trí vốn theo kế hoạch.
Khó khăn hiện nay là một số công trình lớn, trọng điểm, cấp thiết có nguồn vốn bố trí quá thấp. Các qui định về không vượt khối lượng quá mức kế hoạch vốn được giao; bảo lãnh tạm ứng vốn cho nhà thầu chưa hướng dẫn cụ thể, nên các chủ đầu tư, đơn vị thi công gặp khó khăn trong tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, việc thu hồi số dư tạm ứng theo cơ chế điều hành đề ra khó có khả năng thực hiện đối với một số chủ đầu tư, do nguồn vốn tạm ứng lớn nhưng đến nay chưa đảm bảo khối lượng để hoàn ứng. Mặt khác việc đối ứng ngân sách tỉnh theo các chương trình thuộc quyết định 60 của Thủ tướng Chính phủ cũng gây áp lực lớn cho ngân sách tỉnh.
 
Trong 6 tháng đã khởi công một số công trình quan trọng như: Bảo tàng tỉnh, cầu Kỳ phú 1 và 2, nhà máy sản xuất nước uống number one; nhà máy sản xuất và chế tạo động cơ ô tô Hyundai; tổ chức kiểm tra các tuyến ĐT xuống cấp, hư hỏng nặng để có kế hoạch nâng cấp, sửa chữa. Thúc đẩy các dự án ven biển, dự án do Trung ương đầu tư trên địa bàn; giải quyết tồn đọng, vướng mắc về tái định cư thủy điện Sông Tranh 2. Tiếp tục rà soát, kiên quyết thu hồi các dự án không triển khai thực hiện, gây bức xúc trong nhân dân. Bên cạnh đó, đã khánh thành đưa vào sử dụng các công trình qui mô lớn như thủy điện Đăkmi 4, cầu cảng số 1 Tam Hiệp, nhà máy thu gom xử lý nước thải khu kinh tế mở Chu lai.
Khối lượng thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 6 tháng hơn 906 tỷ đồng, tăng hơn 7% so với cùng kỳ năm 2011. Đã thẩm tra 111 dự án, công trình thuộc khối tỉnh quản lý với tổng giá trị quyết toán sau khi thẩm tra 611 tỷ đồng, giảm hơn 17 tỷ đồng so với chủ đầu tư đề nghị.
Tỷ lệ giải ngân năm nay thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Đến 15/6/2012, toàn tỉnh đã giải ngân hơn 31% kế hoạch vốn, trong đó ngân sách tỉnh giải ngân 22%; ngân sách cấp huyện giải ngân 39%; ngân sách cấp xã giải ngân 55%. Nguyên nhân chính của giải ngân chậm chủ yếu là do nguồn vốn được bố trí chậm; tạm ứng chỉ tối đa 30% của kế hoạch vốn được giao; một số chủ đầu tư chưa tích cực đôn đốc công tác giải ngân; chưa có hướng dẫn cụ thể về bảo lãnh tạm ứng.
Đã tiếp nhận viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 46 chương trình, dự án với tổng vốn viện trợ 156 tỷ đồng, giá trị giải ngân hơn 45 tỷ đồng.
Cấp giấy phép đăng ký 04 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 9 triệu USD thuộc lĩnh vực may mặc chế tạo và dịch vụ. Cấp 09 giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế với tổng vốn đăng ký 726 tỷ đồng. Cấp phép đăng ký kinh doanh 280 doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đăng ký 1.500 tỷ đồng. Qua rà soát, số lượng doanh nghiệp được cấp phép đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh đến 31/12/2011 là hơn 4.950 doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua điều tra, chỉ có hơn 3.300 doanh nghiệp hoạt động. Số còn lại là đăng ký nhưng chưa hoạt động; tạm ngừng hoạt động; không tìm thấy và giải thể 684 doanh nghiệp, trong đó 6 tháng đầu năm 2012 giải thể 11 doanh nghiệp.  
 
2. Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn 6 tháng thực hiện 5.770 tỷ đồng (giá so sánh 1994) bằng 50,2% kế hoạch năm, tăng 10,6% so 6 tháng đầu năm 2011. Mức tăng này thấp hơn mức tăng so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 11,5%) và thấp hơn 1,9% so với mức tăng của kế hoạch đề ra cho cả năm (12,5%).
Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP (giá thực tế) tiếp tục chuyển dịch tích cực. Công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm gần 81,5%; nông lâm thủy sản chiếm 18,5%. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp - xây dựng và dịch vụ 6 tháng năm 2012 tiếp tục tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2011; trong đó công nghiệp tăng 0,1%; dịch vụ tăng 0,1%, nông lâm ngư nghiệp giảm 0,2%
a) Giá trị sản xuất công nghiệp &TTCN (giá cố định) có tốc độ tăng khá nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của kế hoạch đề ra.
Giá trị ngành công nghiệp 6 tháng thực hiện 6.559 tỷ đồng, bằng 43,4% kế hoạch, tăng 17,7% so với 6 tháng cùng kỳ năm 2011 .
Theo chỉ tiêu sản xuất công nghiệp (bao gồm chỉ số sản xuất, chỉ số tiêu thụ, chỉ số tồn kho), chỉ số tháng 6 năm 2012 tăng gần 9,1% so với tháng 6 năm 2011. Tính chung 6 tháng, chỉ số này tăng 11,3% so với cùng kỳ (cả nước chỉ số này 5 tháng tăng 4,2%).
Qua số liệu về giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm, mặc dù có tốc độ tăng, nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước (cùng kỳ 2011/2010 tăng 19,7%) và thấp hơn 4,3% tốc độ tăng của chỉ tiêu kế hoạch đề ra cho cả năm 2012 (22%).
Nguyên nhân chủ yếu là do giá cả nguyên liệu đầu vào vẫn ở mức cao; doanh nghiệp khó khăn về điều kiện khi tiếp cận vốn vay; một số sản phẩm tiêu thụ khó khăn; hàng hóa tồn kho; hợp đồng đặt hàng mới chưa phát sinh; một số mặt hàng xuất khẩu giảm như: Sản phẩm gỗ giảm 30%; thủy sản giảm hơn 28%, dệt may giảm 15%, linh kiện điện tử giảm 14%; tiêu thụ ô tô con giảm mạnh.
b) Giá trị các ngành dịch vụ đều tăng; xuất khẩu tăng cao
Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ 5.725 tỷ đồng, bằng gần 54% kế hoạch năm, tăng hơn 15% so với cùng kỳ, mức tăng này thấp hơn 1% so với tốc độ tăng của kế hoạch đề ra (kế hoạch 16%).
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ 6 tháng hơn 11.500 tỷ đồng, tăng trên 27,6% so với cùng kỳ.
Khối lượng hàng hóa thông qua cảng thực hiện 397.000 tấn, giảm 11% so với cùng kỳ, trong đó hàng xuất khẩu chủ yếu là dăm gỗ bạch đàn và quặng trên 42 nghìn tấn, giảm gần 58%.
Tổng lượt khách tham quan lưu trú gần 1,4 triệu lượt, hơn 50% kế hoạch, tăng 30% so với cùng kỳ. Trong đó, khách quốc tế hơn 800 ngàn lượt, tăng 20%.
Tổng kim ngạch xuất khẩu 227 triệu USD, bằng 57% kế hoạch năm, tăng trên 66% so với cùng kỳ. Xuất khẩu tăng cao chủ yếu là nhóm hàng giày da và vàng, trong đó vàng chiếm 23% với giá trị gần 52 triệu USD, tăng gấp gần 5 lần; giày da chiếm trên 31% với giá trị 71,5 triệu USD, tăng gấp 2,5 lần. Ngoài hai mặt hàng trên, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác của tỉnh như thủy sản, dệt may, sản phẩm gỗ đều giảm. Đây cũng là những khó khăn mà các doanh nghiệp của tỉnh đang gặp phải trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, ngoài các thị trường truyền thống, các doanh nghiệp đang tìm kiếm thị trường mới để xuất khẩu.
Nhập khẩu gần 240 triệu USD, giảm gần 30% so với cùng kỳ. Đây là năm có sự biến động giảm trong 3 năm qua, trong đó doanh nghiệp tư nhân và FDI đều giảm. Các mặt hàng lớn như linh kiện ô tô giảm 37%; nguyên phụ liệu may mặc giảm trên 42%. Các mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất giảm, do vậy có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, giải quyết lao động việc làm và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh trong những tháng tiếp theo.
Trong điều kiện còn nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ, một số mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực của tỉnh liên tục giảm trong những tháng đầu năm, thì sang tháng 5 và tháng 6 đã có dấu hiệu tích cực như xuất khẩu da giầy tăng cao, xuất khẩu linh kiện điện tử bắt đầu có dấu hiệu tăng; phần lớn mặt hàng nhập khẩu trong tháng 6 đầu năm 2012 tăng so với tháng 6 năm 2011; đồng thời có sự tác động tích cực từ các chính sách của nhà nước về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, đây là những tín hiệu khả quan, đáng chú ý.
c) Vụ Đông Xuân được mùa nhất từ trước đến nay. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng cao.
Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp 1.649 tỷ đồng, bằng 55,2% kế hoạch năm, tăng 7,8% so với 6 tháng đầu năm 2011 (6 tháng 2011/6 tháng 2010 tăng 0,5%). Trong đó nông nghiệp tăng 7,5%; lâm nghiệp tăng 5,5%; thủy sản tăng 9,6%.
Vụ Đông Xuân được mùa nhất từ trước đến nay trên địa bàn toàn tỉnh. Diện tích lúa Đông Xuân năm 2011-2012 toàn tỉnh 43.277 ha. Tổng sản lượng 236.825 tấn. Năng suất lúa bình quân 54,7 tạ/ha, tăng 7,7 tạ/ha so với cùng vụ năm trước. Trong đó các huyện phía Bắc 61,6 tạ/ha; các huyện phía Nam 53,9 tạ/ha; các huyện miền núi thấp 48,6 tạ/ha; các huyện miền núi cao 36,3 tạ/ha. Tính chung sản lượng lương thực có hạt vụ Đông Xuân năm nay 262.500 tấn, tăng 16,3% so với vụ Đông Xuân năm trước.
Vụ Hè thu cơ bản đã được gieo sạ xong, đang triển khai các giải pháp chống hạn và nhiễm mặn, bảo đảm lúa phát triển ổn định.
Tình hình Dịch bệnh H5N1và dịch lở mồm long móng đã được kiểm soát, không có phát sinh ổ dịch mới sau khi công bố hết dịch kể từ ngày 14/3/2012. Theo kết quả điều tra, tổng đàn gia súc giảm, tổng đàn gia cầm tăng so với cùng kỳ.
Được sự hỗ trợ xăng dầu và lãi suất trong việc vay vốn đóng mới, cải hoán tàu thuyền nên số tàu ra khơi tăng. Toàn tỉnh có 3.871 tàu thuyền khai thác hải sản có động cơ, với tổng công suất 104.200 CV, tăng 20 chiếc so với năm 2011, trong đó tàu có công suất 90 CV trở lên có 165 chiếc. Sản lượng khai thác thủy sản 6 tháng thực hiện 36.400 tấn, bằng hơn 60% kế hoạch năm, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2011. Diện tích nuôi trồng trên 6.500 ha, tăng hơn 5%, sản lượng trên 9.800 tấn, tăng 36%. Riêng diện tích tôm nuôi trên 1.600 ha, năng suất tôm nuôi vụ I khoảng 45 tạ/ha, sản lượng 7.200 tấn, tăng 54%. Giá tôm thương phẩm tăng 90.000 đến 100.000/kg nên người nuôi có lãi lớn.
Chăm sóc rừng trồng hơn 10.800 ha, bằng 65% kế hoạch năm. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tính chung 6 tháng thực hiện 148.000 m3, bằng 66% kế hoạch, tăng trên 5,7% so với cùng kỳ. Công tác phòng chống cháy rừng được chú trọng nên mặc dù đã vào mùa nắng nóng nhưng trên địa bàn chưa xẩy ra cháy rừng.
 
3. Văn hoá xã hội tiếp tục được quan tâm, tích cực triển khai các giải pháp về đảm bảo an sinh xã hội.
 
Nhiều hoạt động văn hóa diễn ra trong 6 tháng đầu năm nhân sự kiện và các ngày lễ lớn như: 82 năm thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam; 37 năm giải phóng quê hương Quảng Nam; 15 năm tái lập tỉnh và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh; Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hiệp Đức, 50 năm trận đánh của các Dũng sĩ Điện Ngọc,... Tăng cường quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông, các hoạt động báo chí, phát thanh và truyền hình nhằm phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị trên địa bàn toàn tỉnh.
   Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Đã chuyển hơn 55,2 tỷ đồng quà của Chủ tịch nước, của Tỉnh ủy và UBND tỉnh đến hơn 212.000 các trường hợp gia đình chính sách, người có công cách mạng; hơn 642 triệu đồng thăm Tết các cơ quan, đơn vị, các đồng chí lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ đã nghỉ hưu và các cán bộ lão thành cách mạng.
Phân bổ 2.000 tấn gạo từ nguồn hỗ trợ của Chính phủ để khắc phục hậu quả lũ lụt, cứu đói trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Thìn và giáp hạt 2012; hỗ trợ Tết cho 79.482 hộ nghèo với mức 300.000đ/hộ, tương đương tổng số tiền hơn 23,8 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các huyện, thành phố đã thăm, tặng quà các gia đình chính sách hơn 1,5 tỷ đồng; các cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đã thăm, tặng quà các gia đình có hoàn cảnh khó khăn hơn 4.200 suất quà, trị giá hơn 1,4 tỷ đồng.
Kết quả kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia bậc THPT năm 2012, toàn tỉnh có 15 em đoạt giải thuộc các trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sào Nam, Nguyễn Duy Hiệu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hiền. Kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011-2012 có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 99,09%.
Về công tác tuyển sinh, năm học 2012-2013 có tổng cộng 26.180 chỉ tiêu vào lớp 10 tại các trường trên địa bàn tỉnh. Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm và chuyên Bắc Quảng Nam tổ chức thi tuyển vào lớp 10, các trường còn lại trên địa bàn tỉnh tổ chức tuyển sinh theo hình thức xét tuyển theo hướng phân tuyến. Về tuyển sinh lớp 6, sẽ thực hiện tuyển 100% học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học vào hệ công lập.
Các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục thực hiện công tác chuẩn bị tuyển sinh năm học 2012 - 2013 theo 2 hình thức thi tuyển và xét tuyển. Chỉ tiêu tuyển sinh của một số trường cao hơn so với năm học trước.
Đã giải quyết việc làm mới 18.000 lao động bằng 46% kế hoạch năm. Giải ngân cho hơn 100 dự án vay vốn Quỹ Quốc gia về việc làm với số tiền 04 tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 400 lao động; xuất khẩu 71 lao động, chủ yếu là ở thị trường Hàn Quốc, Malaysia và Nhật Bản. Hơn 2.200 người được trợ cấp thất nghiệp với số tiền trên 10 tỷ đồng.
Triển khai thực hiện “Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” tại 244 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Tính đến giữa tháng 6/2012, tổng số lao động được tuyển sinh học nghề là 15.800 người đạt 41% kế hoạch năm; tổng số học viên tốt nghiệp các khoá đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề là 12.750 người.
Xác nhận, giải quyết trợ cấp trên 4.150 trường hợp, chủ yếu là ưu đãi học sinh, sinh viên con gia đình chính sách, người có công, người bị nhiễm chất độc hóa học, bảo hiểm y tế. Thực hiện chi trả bảo hiểm gần 26.000 trường hợp với số tiền 225 tỷ đồng. Phân bổ 15 tỷ đồng công tác mộ và nghĩa trang liệt sĩ.
Hỗ trợ cải thiện, sửa chữa 1.470 nhà và xây mới 667 nhà ở cho người có công. Hỗ trợ xây dựng gần 2.100 ngôi nhà cho hộ nghèo, nâng tổng số nhà ở được hỗ trợ xây dựng trên 16.610/18.014 nhà giai đoạn 2009-2012, với kinh phí 458 tỷ đồng, chiếm 92% số nhà được phê duyệt sau các lần điều chỉnh và bằng hơn 114% so với đề án phê duyệt ban đầu. Số nhà còn lại, tiếp tục thực thiện, phấn đấu hoàn thành trong năm 2012 theo kế hoạch đề án. Mua và cấp hơn 225.800 thẻ bảo hiểm y tế người nghèo với tổng kinh phí trên 101 tỷ đồng.
Về thể thao thành tích cao, đã có 5/9 đoàn vận động viên tỉnh đã tham gia thi đấu với kết quả đạt được 17 huy chương các loại (05 HCV, 05 HCB, 07 HCĐ).
Công tác kiểm tra, giám sát, chủ động phòng ngừa các bệnh xã hội được duy trì thường xuyên, nhờ vậy, tình hình các loại dịch, bệnh tương đối ổn định. Trên địa bàn không xẩy ra các bệnh dịch nguy hiểm. Riêng tình hình dịch bệnh tay chân miệng có xu hướng giảm, các trường hợp mắc bệnh đã được điều trị kịp thời, không có trường hợp tử vong.
Sáu tháng qua trên địa bàn tỉnh đã phát hiện thêm 30 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số ca nhiễm HIV lên 730 trường hợp, trong đó 369 trường hợp đã chuyển sang AIDS và 281 trường hợp tử vong. Theo ước tính dự báo áp dụng cho các tỉnh khu vực miền Trung của Bộ Y tế, con số thực tế người nhiễm HIV gấp khoảng từ 2 đến 3 lần so với số trường hợp nhiễm được phát hiện.
 
4. Công tác phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, chương trình nông thôn mới tiếp tục được thực hiện, đạt một số kết quả trên các lĩnh vực.
Tổ chức thực hiện tốt các chính sách về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt cho đồng bào miền núi; ưu đãi vốn vay phục vụ cho phát triển sản xuất, dồn điền đổi thửa, cơ giới hóa từ khâu sản xuất đến thu hoạch sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ ngư dân đóng mới, cải hoán tàu thuyền khai thác, đánh bắt xa bờ.
Sau 3 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay đã có 102/213 xã hoàn thành đề án xây dựng nông thôn mới, các xã còn lại đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện đề án. Kết quả tự đánh giá 50 xã được chọn triển khai giai đoạn 2011-2015 có 01 xã Tam Phước đạt 18/19 tiêu chí; 18 xã đạt từ 6 đến 9 tiêu chí, 31 xã còn lại đạt từ 1 đến 5 tiêu chí. Khó khăn hiện nay là nguồn vốn chương trình hạn chế, trong khi số lượng xã thực hiện nhiều. Năm 2012 kế hoạch vốn chương trình từ ngân sách trung ương và tỉnh bố trí gần 61 tỷ đồng, bình quân mỗi xã gần 290 triệu đồng. Vì vậy, bên cạnh phải lồng ghép với các chương trình khác, cần phải lựa chọn tiêu chí và có lộ trình cụ thể để triển khai thực hiện.
Kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo sau hơn một năm thực hiện Nghị Quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XX, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hơn mục tiêu đề ra (mục tiêu từ 2,5 đến 3%/năm), theo đó năm 2011 còn 20,9%, giảm giảm gần 3,3% so với năm 2010.
Năm 2012, tổng kinh phí cho phát triển giao thông nông thôn khoảng 150 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ các địa phương 62 tỷ đồng, cùng với ngân sách cấp huyện và đóng góp của nhân dân tiếp tục thực hiện đề án phát triển giao thông nông thôn. Đến 30/6/2012, cơ bản đã hoàn thành kế hoạch năm với hơn 200 km đường. Thực hiện Nghị Quyết 13 của Chính phủ, UBND tỉnh tiếp tục thực hiện các biện pháp để huy động bổ sung nguồn vốn cho vay đầu tư kiên cố hoá kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, trạm bơm điện phục vụ sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và làng nghề ở nông thôn.
Nguồn vốn thực hiện chương trình Nghị quyết 30a đã được lồng ghép với các nguồn vốn khác như chương trình giảm nghèo, chương trình kiên cố hóa trường học, các công trình giao thông, thủy lợi, điện và các chương trình hỗ trợ người nghèo. Qua 04 năm thực hiện, nguồn vốn chương trình 30a đã được cân đối hơn 450 tỷ đồng, trong đó riêng năm 2012 là 127,5 tỷ đồng. Nguồn vốn trên chủ yếu thực hiện hỗ trợ sản xuất, giáo dục dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao dân trí và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Bên cạnh đó, trong năm 2012, UBND tỉnh đã hỗ trợ 37,5 tỷ đồng cho 03 huyện miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao, không thuộc chương trình theo Nghị Quyết 30a.
 
5. Công tác tài nguyên và môi trường được quan tâm, tập trung đầu tư và tăng cường công tác kiểm tra xử lý các vi phạm.
Tổ chức sơ kết, đánh giá và tiếp tục thực hiện các biện pháp lập lại trật tự trong lĩnh vực quản lý khoáng sản, nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương về công tác quản lý địa bàn, quản lý các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản. Tổ chức truy quét, đẩy đuổi và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân khai thác, chế biến lâm, khoáng sản trái phép, ô nhiễm môi trường.
Thúc đẩy tiến độ một số dự án ODA về môi trường ở những vùng quan trọng, trước hết là xử lý nước thải, rác thải khu vực đô thị Tam Kỳ, Hội An; khôi phục rừng và phát triển bền vững.
Qua kiểm tra lực lượng chức năng đã phát hiện, xử phạt hành chính hành vi xả khí thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường ở một số công ty luyện thép tại Điện Bàn. Yêu cầu một số đơn vị khác khắc phục những thiếu sót trong công tác bảo vệ môi trường.
Tiến hành khảo sát, thu thập để kết luận nguyên nhân ô nhiễm trên các sông, trong đó có nguyên nhân từ khai thác vàng trái phép và do thi công xây dựng các công trình thủy điện.
 
6. Công tác nội chính, quốc phòng - an ninh được đảm bảo, đối ngoại được tăng cường. Tai nạn giao thông đường bộ giảm cả ba tiêu chí.
Đã tổ chức thành công Hội nghị thường niên với đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sêkông của nước bạn Lào. Tiếp tục thực hiện công tác tăng dày, tôn tạo và cắm mốc biên giới giữa hai tỉnh, đồng thời chuẩn bị tốt công tác mở cửa khẩu phụ Tây Giang (Quảng Nam) - Kà Lừm (Sê Kông).
Hoàn thành tốt công tác giao quân đợt I năm 2012, đảm bảo chất lượng, đủ 100% chỉ tiêu đề ra. Triển khai thực hiện kế hoạch khu vực phòng thủ vững chắc, tổ chức diễn tập theo kế hoạch. Tổ chức huấn luyện các phân đội cứu hộ, cứu nạn ở các cấp. Tiếp tục thực hiện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh.
Tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân liên quan vùng dự án, nhằm giải thích, giải quyết những vướng mắc về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư để triển khai dự án.
Toàn tỉnh đã thực hiện 72/117 cuộc thanh tra hành chính, bằng 61,5% kế hoạch năm, trong đó đã kết thúc 40 cuộc. Qua thanh tra phát hiện sai phạm trong quản lý kinh tế trên 4,4 tỷ đồng và trên 320.000 m2 đất tại 83 đơn vị, cá nhân sai phạm trong 174 đơn vị, cá nhân được thanh tra. Kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước tiền và đất sai phạm; kiến nghị xử hành chính 20 tập thể và 30 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 02 vụ. Riêng đối với thanh tra xây dựng cơ bản đã phát hiện số tiền sai phạm hơn 1,4 tỷ đồng. Một số sai phạm ở lĩnh vực xây dựng cơ bản đó là: Công tác quản lý của chủ đầu tư thiếu chặt chẽ; đơn vị thi công thực hiện một số công việc chưa đảm bảo đúng theo thiết kế, dự toán được duyệt, đưa vào thanh quyết toán khối lượng, giá trị xây lắp chưa đúng với khối lượng thực tế dẫn đến làm thất thoát vốn đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó, các thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đã xử lý vi phạm 1.033 tập thể, cá nhân; kiến nghị thu hồi hơn 2,1 tỷ đồng.
Các cơ quan quản lý Nhà nước đã tổ chức tiếp nhận hơn 1.360 đơn khiếu nại, tăng 0,3% và 66 đơn tố cáo, giảm hơn 15% so với cùng kỳ. Trong đó số vụ khiếu nại lĩnh vực hành chính thuộc thẩm quyền 637 vụ, tăng trên 47%, chủ yếu ở cấp huyện và cấp xã về tranh chấp đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư, chính sách xã hội. Các cơ quan đơn vị đã tiến hành thụ lý, xem xét giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, hướng dẫn, chuyển đơn theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo.
 Đã triển khai thực hiện Đề án “ Tuyển chọn, đào tạo nguồn cán bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 - 2016 ”  (gọi tắt là Đề án 500),
 
đến nay đã triển khai đào tạo khóa I với 108 học viên.
Tình hình tai nạn giao thông được kiềm chế, là một trong 44 tỉnh, thành của cả nước đều giảm cả 3 tiêu chí. Trong 6 tháng đầu năm trên địa bàn đã xảy ra 131 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 115 người, bị thương 101 người, so với cùng kỳ giảm 62 vụ tai nạn, giảm 23 người chết và giảm 65 người bị thương.
*
 

*      *

 

 

 

Qua 6 tháng đầu năm 2012, các ngành, địa phương đã tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, của HĐND về nhiệm vụ năm 2012 và đã đạt được những kết quả tích cực. Giá cả, thị trường khá ổn định, chỉ số giá tăng thấp nhất so với nhiều năm qua; ngành nông nghiệp đã khắc phục khó khăn do thời tiết, dịch bệnh để ổn định sản xuất, Vụ Đông Xuân được mùa nhất từ trước đến nay, năng suất và sản lượng tăng; sản xuất công nghiệp duy trì ở mức tăng khá. Xuất khẩu tăng cao. Lãi suất cho vay tiếp tục giảm. An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống của người dân, đặc biệt là những người nghèo, người già neo đơn, người tàn tật được quan tâm; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; trật tự an toàn giao thông được cải thiện.
Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp chế biến và chế tạo gặp nhiều khó khăn do chi phí đầu vào cao, một số sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho còn nhiều. Tình hình đó đòi hỏi các ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm túc và đồng bộ các biện pháp về ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời bảo đảm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội trong thời gian tiếp theo.
 
II. NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI, KHÓ KHĂN
Tốc độ tăng trưởng GDP và Giá trị sản xuất công nghiệp mặc dù có tốc độ tăng khá, nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước và thấp hơn tốc độ tăng của chỉ tiêu kế hoạch đề ra cho cả năm 2012. Doanh nghiệp khó khăn về điều kiện khi tiếp cận vốn vay; một số sản phẩm tiêu thụ chậm; hàng hóa tồn kho nhiều; hợp đồng đặt hàng mới chưa phát sinh, dẫn đến quy mô sản xuất một số nhà máy thu hẹp.
Thu nội địa giảm so với cùng kỳ; huy động nguồn thu từ quĩ đất giảm do thị trường bất động sản chưa có dấu hiệu phục hồi; thu xuất nhập khẩu giảm mạnh, trong khi phải thực hiện chính sách miễn, giãn, giảm một số các khoản thuế nên khó có thể đạt dự toán theo kế hoạch đề ra. Công tác giải ngân vốn đầu tư chậm hơn so với năm trước (cùng kỳ năm trước giải ngân chiếm trên 55% so với chỉ tiêu được giao).
Nguồn vốn đầu tư cho một số công trình trọng điểm còn quá thấp như Cầu Cửa Đại; Cầu Kỳ Phú 1,2; đường Nam Quảng Nam; Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng. Thu hồi vốn tạm ứng gặp nhiều khó khăn, chưa đảm bảo theo chủ trương đã đề ra.
Bồi thường thiệt hại còn gặp nhiều vấn đề bất cập, đơn giá được nâng lên một mức nhưng một số hộ dân chưa chịu nhận tiền bồi thường, giao mặt bằng. Bên cạnh đó, công tác quản lý hiện trạng chưa tốt; xác định nguồn gốc đất để thực hiện các chính sách, đo đạt giải thửa còn chậm. Kết cấu hạ tầng một số khu tái định cư xuống cấp, nhất là một số khu tái định cư các công trình thủy điện hiện vẫn thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt.
Lãi suất cho vay giảm, nhưng doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn do khó đáp ứng được các điều kiện cho vay. Phần lớn các doanh nghiệp đều có nợ quá hạn hoặc nợ xấu; chưa có phương án kinh doanh hiệu quả; ngân hàng gặp khó khăn trong xác minh tính minh bạch và lành mạnh của doanh nghiệp do doanh nghiệp thiếu kiểm toán, báo cáo tài chính chưa rõ ràng.
Xuất khẩu tăng cao nhưng chủ yếu tăng ở vàng và da giầy, hai mặt hàng này chiếm hơn 50% tổng giá trị. Các mặt hàng chủ lực khác xuất khẩu đều giảm, do vậy có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, giải quyết lao động, việc làm trong 6 tháng cuối năm.
Công tác quản lý môi trường, tài nguyên đã tập trung xử lý, giải quyết được nhiều vấn đề, tuy nhiên việc khai thác trái phép lâm sản, khoáng sản như: Vật liệu xây dựng, vàng sa khoáng, vẫn còn tiếp diễn; tình trạng ô nhiễm ở một số dòng sông có dấu hiệu tăng trở lại. 
Nhiều chương trình phát triển kinh tế xã hội miền núi được tập trung chỉ đạo và thực hiện, nhưng do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, địa hình phức tạp, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao; một số hộ dân còn trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước; năng lực cán bộ cơ sở thôn, bản còn nhiều hạn chế, nên đời sống nhân dân còn khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của tỉnh giảm dần nhưng tỷ lệ còn cao.
 
III. MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM TRONG 6 THÁNG CUỐI NĂM 2012
Trên cơ sở tình hình và kết quả của 6 tháng đầu năm, trong thời gian tới, các ngành, địa phương trong tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động bám sát tình hình thực tế, tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị Quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XX, Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 13 của Chính phủ, Nghị quyết HĐND về nhiệm vụ năm 2012; tích cực huy động các nguồn lực toàn xã hội, thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, đảm bảo thực hiện đạt mức cao nhất các chỉ tiêu năm 2012 đã đề ra, tập trung vào các nhóm giải pháp sau:
 
Một là, đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, chú trọng các sản phẩm của tỉnh đã có thương hiệu quốc gia và quốc tế, các sản phẩm có sản lượng chiếm tỷ lệ cao trong nước như: ô tô, kính nổi, cồn ethanol, gạch men, vàng. Phấn đấu đưa giá trị xuất khẩu vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong đó chú ý các sản phẩm chủ lực của tỉnh mà có giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm giảm như: Dệt may, thủy sản, linh kiện điện tử.
Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về vốn, mặt bằng và lao động. Trong đó ưu tiên nguồn vốn tín dụng và lãi suất cho các doanh nghiệp theo Nghị Quyết 13 của Chính phủ, nhất là đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn; doanh nghiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
Tập trung cho sản xuất vụ Hè Thu. Phòng chống hạn, nhiễm mặn, đảm bảo nguồn nước tưới cho sản xuất. Tăng cường kiểm tra, theo dõi, phát hiện, chủ động khoanh vùng, ngăn chặn, xử lý, dập tắt các ổ dịch bệnh phát sinh trên gia súc, gia cầm, cây trồng, vật nuôi. Chú trọng công tác thú y cơ sở, không để dịch bệnh tái phát.
Hai là, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, hoàn thành và công bố qui hoạch tổng thể phát triển Quảng Nam đến năm 2020 làm cơ sở điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mới các qui hoạch ngành, qui hoạch phát triển kinh tế xã hội các huyện, thành phố trong tỉnh.
Thực hiện tốt Chỉ thị 1792 của Thủ tướng Chính phủ, nhất là không để nợ đọng xây dựng cơ bản; mọi trường hợp bổ sung, điều chuyển nguồn vốn phải được cơ quan có thẩm quyền giao vốn chấp thuận.
Đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư kế hoạch năm 2012, rà soát lại tất cả các dự án đã đủ thủ tục đầu tư hoặc đã có khối lượng thì lập thủ tục thanh toán vốn đầu tư. Các dự án đã được bố trí vốn đến tháng 9/2012 nếu chưa thanh toán vốn thuộc kế hoạch năm 2012 thì sẽ cắt giảm để bổ sung cho các dự án cần thiết khác. Thúc đẩy tiến độ thực hiện và giải ngân các chương trình dự án ODA, FDI.
Rà soát kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012-2015, cắt giảm qui mô hợp lý, đảm bảo nguồn vốn đã cân đối, không phát sinh nợ.
Tập trung thu hồi nguồn nợ tạm ứng. Kiên quyết thu hồi tạm ứng các nguồn vốn theo qui định, nhất là các khoản tạm ứng còn lại từ năm 2010 trở về trước. Đối với dự án có số dư tạm ứng từ kế hoạch năm 2011 đã quá thời gian qui định mà nhà thầu không triển khai thực hiện thì kiên quyết thu hồi nộp vào ngân sách; các dự án có tiến độ chậm mà nguyên nhân không do nhà thầu gây ra thì xem xét, thương thảo. Từ năm 2012, phải tuân thủ đúng qui định tại Thông tư 86 của Bộ Tài chính, đồng thời xem xét điều chuyển kế hoạch vốn năm 2012 các dự án đã được bố trí vốn nhưng không hoàn ứng theo qui định.
Ba là, tăng cường các biện pháp chống thất thu ngân sách nhà nước. Thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý thuế, phấn đấu hoàn thành dự toán thu ngân sách đề ra. Quản lý thu đủ, kịp thời, đúng quy định các nguồn thu phát sinh trên địa bàn, nhất là nguồn thu từ hoạt động khai thác khoáng sản, kinh doanh vận tải, khách sạn, các khoản thu liên quan đến đất đai; thu thuế hoạt động xây dựng cơ bản vãng lai đối với các công trình xây dựng bằng nguồn vốn ngoài ngân sách.
Đôn đốc người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế đầy đủ, chính xác, đúng hạn theo quy định của Luật Quản lý thuế. Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp không nộp hồ sơ khai thuế, khai quá hạn hoặc khai không đúng quy định. Tập trung giải quyết đúng, đủ, kịp thời việc thực hiện miễn, giảm, gia hạn một số khoản thu ngân sách nhà nước theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường.
Rà soát lại các khoản thu để có hướng giải quyết đối với nguồn tăng thu ngân sách năm 2012 đã được đưa vào cân đối trong dự toán. Bên cạnh đó, kiểm soát lại các khoản chi, tiết kiệm chi, đảm bảo kinh phí cho các hoạt động cần thiết, không chi phát sinh ngoài dự toán.
Bốn là, thực hiện tốt mục tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Chuẩn bị tốt kế hoạch để triển khai năm học mới 2012 – 2013.
Xây dựng chương trình quản lý, đẩy nhanh tiến độ thẩm định hồ sơ, giải quyết các chế độ ưu đãi người có công. Xác lập thủ tục hồ sơ đề nghị tuyên dương danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và hồ sơ đề nghị tặng thưởng Huân chương độc lập; tiếp tục hỗ trợ người có công cải thiện nhà ở. Phấn đấu hoàn thành đề án xây dựng nhà ở cho người nghèo trong năm 2012. Thực hiện tốt công tác bảo trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
Năm là, phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi, thúc đẩy các chương trình giảm nghèo, lồng ghép các nguồn vốn triển khai thực hiện các chương trình thuộc 04 huyện nghèo của tỉnh theo Nghị Quyết 30a và 03 huyện nghèo ngoài chương trình 30a. Phát triển chương trình hỗ trợ đào tạo nghề nông thôn. Xây dựng đề án phát triển kinh tế xã hội miền núi đến năm 2020.
Đẩy nhanh tiến độ các dự án thuộc các chương trình mục tiêu, các dự án cứu hộ cứu nạn. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng theo các chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình nông thôn mới; chương trình phát triển vùng theo Nghị Quyết 39. Đôn đốc và thực hiện các biện pháp về tài chính nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, nhất là chương trình mục tiêu quốc gia, chấp hành tốt công tác thanh toán, quyết toán công trình xây dựng cơ bản theo qui định.
Nâng cấp, sửa chữa các kết cấu hạ tầng xuống cấp ở các khu vực tái định cư, đảm bảo nơi ở mới của người dân tốt hơn nơi ở cũ. Trong đó chú ý đến vấn đề đất sản xuất, nước sinh hoạt và các dịch vụ cơ bản khác.
Sáu là, phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra. Xây dựng, kiểm tra, rà soát các phương án, thực hiện tốt kế hoạch di dời dân ra khỏi những khu vực có nguy cơ sạt lở. Chủ động nguồn lực để thực hiện các phương án cứu hộ cứu nạn, phòng chống lụt bão.
Bảy là, tăng cường công tác quốc phòng - an ninh, nội chính; giữ vững an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng toàn dân, thực hiện có hiệu quả công tác nắm tình hình sẵn sàng chiến đấu. Tổ chức giao, nhận quân đợt II năm 2012 đúng kế hoạch, đủ chỉ tiêu. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, tổ chức huấn luyện, diễn tập theo kế hoạch. Bảo đảm an toàn giao thông. Phấn đấu tiếp tục giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí: số vụ, số người chết và bị thương, nhất là đối với giao thông đường bộ như những tháng đầu năm 2012 đã thực hiện.
Kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là các đối tượng tội phạm nguy hiểm, buôn bán ma tuý.
Tám là, triển khai thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013; theo dõi diễn biến tình hình, dự báo khả năng thực hiện kế hoạch năm 2012, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách năm 2013. Đối với các dự án điều chỉnh, bổ sung, các công trình mới trong năm 2013 sử dụng nguồn vốn hỗ trợ theo mục tiêu; trái phiếu Chính phủ, cần phải chuẩn bị đầy đủ các thủ tục để gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính thẩm định nguồn vốn trước khi quyết định phê duyệt./.
Anh Tư
(Nguồn: Báo cáo 89/BC-UBND ngày 28/6/2012)

 

 

Lượt xem:  3.259 Google Bookmarks Google Bookmarks Bản in Quay lại

Ý kiến độc giả
{{NguoiGui}}   ()
gửi lúc {binding NgayGui, convert=dateConverter}
{{ HienThiNoiDung(NoiDung,TrangThai)}}
Chưa có bình luận nào của độc giả.
Tin đã đưa